JIT – Just in time

Just In Time là gì?

Định nghĩa

Sản xuất tức thời trong tiếng Anh là Just in time, viết tắt là JIT. JIT là một khái niệm trong sản xuất hiện đại, được hiểu ngắn gọn nhất “đúng sản phẩm – đúng số lượng – đúng nơi – đúng thời điểm cần thiết”.

Bản chất và ý nghĩa

– JIT là một hệ thống điều hành sản xuất mà trong đó các luồng nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm lưu hành trong quá trình sản xuất và phân phối được lập kế hoạch chi tiết nhất trong từng bước, sao cho qui trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi qui trình hiện thời chấm dứt.

– Qua đó, không có hạng mục nào trong quá trình sản xuất rơi vào tình trạng để không, chờ xử lí, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vận hành. Hệ thống JIT cho phép hệ thống sản xuất vận hành hiệu quả nhất, tránh lãng phí không cần thiết.

Mục tiêu của JIT

– Mục đích cơ bản của JIT là cân bằng hệ thống, có nghĩa là đảm bảo dòng dịch chuyển đều đặn, liên tục trong suốt hệ thống.

– Làm thời gian thực hiện càng ngắn và sử dụng nguồn lực càng tốt là cách thức đạt được sự cân bằng với ba mục tiêu chính:

+ Loại bỏ sự gián đoạn: sự gián đoạn tác động ngược lại đối với hệ thống trong việc làm đều đặn dòng dịch chuyển sản phẩm và vì thế nó cần được loại bỏ. Nguyên nhân chủ yếu gây gián đoạn đó là do các yếu tố hư hỏng thiết bị, thay đổi tiến độ hay cung ứng chậm trễ.

+ Làm cho hệ thống linh hoạt: tính linh hoạt của hệ thống giúp tăng khả năng sản xuất, đảm bảo sự cân đối của nguồn lực. Hệ thống cần có những khả năng thích ứng với những thay đổi.

+ Loại bỏ sự lãng phí: sự lãng phí thể hiện ở việc sử dụng không hiệu quả các nguồn lực. Theo JIT thì có 7 lãng phí sau:

  • Lãng phí do sản xuất dư thừa hoặc quá sớm
  • Lãng phí do chờ đợi
  • Lãng phí do vận chuyển
  • Lãng phí do lưu kho nhiều
  • Lãng phí vật tư trong quá trình sản xuất
  • Lãng phí do phế phẩm.
  • Lãng phí do các động tác hoặc hoạt động thừa.

Điều kiện áp dụng Just in time

Áp dụng hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất có tính chất lặp đi lặp lại.

Đặc trưng quan trọng của mô hình JIT: áp dụng những lô hàng nhỏ với quy mô sản xuất gần như nhau, tiếp nhận vật tư trong suốt quá trình sản xuất tốt hơn là sản xuất những lô hàng lớn rồi để tồn kho, ứ đọng vốn. Nó cũng giúp dễ kiểm tra chất lượng, giảm thiệt hại khi có sai sót.

 Luồng “hàng hóa” lưu hành trong quá trình sản xuất và phân phối được lập chi tiết cho từng bước sao cho công đoạn tiếp theo thực hiện được ngay sau khi công đoạn trước hoàn thành. Không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi sản phẩm đầu vào.

Mỗi công đoạn chỉ làm một số lượng sản phẩm/ bán thành phẩm đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo cần tới.

Người công nhân ở quy trình tiếp theo chính là khách hàng của quy trình trước đó.Họ có trách nhiệm kiểm tra, nghiệm thu bán sản phẩm được chuyển đến trước khi thực hiện công việc của mình. Sản phẩm không đạt yêu cầu sẽ bị loại bỏ ra khỏi dây chuyền và báo cho toàn Hệ thống để điều chỉnh kế hoạch kịp thời.

 Sử dụng mô hình Just in time đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp. Tăng cường phân công lao động xã hội thông qua hợp tác với các Công ty liên kết.

Muốn Just in time thành công, Doanh nghiệp cần kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp: áp dụng dây chuyền luồng một sản phẩm (sản phẩm được chuyển theo quy trình sản xuất chứ không theo bộ phận chuyên môn nhằm giảm thiểu chi phí vận chuyển), khả năng tự kiểm lỗi (công đoạn sau kiểm tra, nghiệm thu công đoạn

Lợi ích áp dụng Just in time

– Giảm tối đa hiện tượng tồn kho, ứ đọng vốn

– Giảm diện tích kho bãi

– Tăng chất lượng sản phẩm

– Giảm phế liệu, sản phẩm lỗi

– Tăng năng suất nhờ giảm thời gian chờ đợi

– Linh hoạt trong thay đổi qui trình sản xuất, thay đổi mẫu mã sản phẩm

 

– Công nhân được tham gia sâu trong việc cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm

– Giảm lao động gián tiếp

– Giảm áp lực của khách hàng

Triển khai cho doanh nghiệp

JIT là một phương pháp quản lý tập trung vào loại trừ những hao phí trong sản xuất bằng cách sản xuất đúng số lượng và kết hợp các thành phần tại đúng chỗ vào đúng thời điểm. Điều này dựa vào một thực tế hao hụt là kết quả từ bất kỳ hoạt động nào làm gia tăng chi phí mà không gia tăng thêm giá trị cho sản phẩm, như là sự chuyển dịch hàng tồn kho từ chỗ này sang chỗ khác hay thậm chí chỉ là hành động cất giữ hàng tồn. Mục đích của JIT là nhằm giảm thiểu các những hoạt động không gia tăng giá trị và không di chuyển hàng tồn trong khu vực dây chuyền sản xuất. Điều này sẽ dẫn đến thời gian sản xuất nhanh hơn, thời gian giao hàng ngắn hơn, sử dụng thiết bị hiệu quả hơn, yêu cầu không gian nhỏ hơn, tỷ lệ lỗi sản phẩm thấp hơn, chi phí thấp hơn, và lợi nhuận cao hơn. JIT bắt nguồn từ Nhật bản, nơi nó đã được thực hành từ đầu những năm 1970. Nó được phát triển và hoàn thiện bởi Ohno Taiichi của Toyota, người mà bây giờ được xem như cha đẻ của JIT. Taiichi Ohno phát triển phương pháp này như một phương tiện nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng với thời gian nhanh nhất. Trước đây, JIT được sử dụng không chỉ để giảm bớt hao phí trong sản xuất mà còn chủ yếu để sản xuất hàng hóa đến tay khách hàng chính xác khi họ cần đến. JIT cũng được biết như một phương pháp sản xuất tinh gọn (Lean) hay sản xuất không tồn kho, bởi vì yếu tố then chốt phía sau khi áp dụng thành công JIT là giảm tồn kho tại nhiều công đoạn khác nhau dây chuyền sản xuất đến mức tối thiểu. Điều này cần phải có sự phối hợp tốt giữa những công đoạn chỉ sản xuất chính xác số lượng cần thiết cho công đoạn sau. Nói một cách khác, một công đoạn chỉ nhận vào chính xác số lượng cần thiết từ công đoạn trước.

Hệ thống JIT bao gồm định nghĩa luồng sản xuất và thiết lập khu vực sản xuất sao cho luồng nguyên liệu khi được đưa vào sản xuất được thông suốt và không bị cản trở, do đó giảm bớt thời gian đợi nguyên liệu. Điều này yêu cầu khả năng của các những trạm làm việc khác nhau mà nguyên liệu đi qua tương ứng và cân bằng một cách chính xác. Những điểm “thắt cổ chai” trong dây chuyền sản xuất sẽ được loại trừ. Cơ cấu này bảo đảm rằng nguyên liệu sẽ được gia công mà không có tình trạng xếp hàng hay ngừng lại chờ. Bản chất của hệ thống JIT là một dòng sản phẩm đều đặn đi qua hệ thống với lượng tồn kho nhỏ nhất. Hệ thống JIT có những đặc trưng chủ yếu sau đây:

  • Mức độ sản xuất đều và cố định: JIT đòi hỏi một dòng sản phẩm đồng nhất khi đi qua một hệ thống, các hoạt động sẽ thích ứng với nhau và để nguyên vật liệu và sản phẩm chuyển từ người cung ứng đến đầu ra cuối cùng. Mỗi thao tác phải được phối hợp cẩn thận bởi các hệ thống rất chặt chẽ. Do đó, lịch trình sản xuất phải được cố định trong một khoảng thời gian để thiết lập lịch mua hàng và sản xuất. Rõ ràng là luôn có áp lực lớn để có được những dự báo tốt và phải xây dựng được lịch trình thực tế bởi vì không có nhiều tồn kho để bù đắp những thiếu hụt trong hệ thống.
  • Tồn kho thấp: Một trong những dấu hiệu để nhận biết hệ thống JIT là lượng tồn kho thấp. Lượng tồn kho bao gồm các chi tiết và nguyên vật liệu được mua, sản phẩm dở dang và thành phẩm chưa tiêu thụ. Lượng tồn kho thấp có hai lợi ích quan trọng. Lợi ích rõ ràng nhất là tiết kiệm được không gian và tiết kiệm chi phí do không phải ứ đọng vốn. Lợi ích thứ hai khó thấy hơn nhưng lại là một khía cạnh then chốt của triết lý JIT. Đó là tồn kho luôn là nguồn lực dự trữ để khắc phục những mất cân đối trong quá trình sản xuất. Có nhiều tồn kho sẽ làm cho những nhà quản lý ỷ lại, không cố gắng khắc phục những sự cố trong sản xuất và dẫn đến chi phí tăng cao. Phương pháp JIT làm giảm dần dần lượng tồn kho, từ đó người ta càng dễ tìm thấy và giải quyết những khó khăn phát sinh.
  • Kích thước lô hàng nhỏ: Đặc điểm của hệ thống JIT là kích thước lô hàng nhỏ trong cả hai quá trình sản xuất và phân phối từ nhà cung ứng. Kích thước lô hàng nhỏ sẽ tạo ra một số lợi ích cho hệ thống JIT hoạt động một cách có hiệu quả như sau:
    • Với lô hàng có kích thước nhỏ, lượng hàng tồn kho sản phẩm dở dang sẽ ít hơn so với lô hàng có kích thước lớn. Điều này sẽ giảm chi phí lưu kho và tiết kiệm diện tích kho bãi.
    • Lô hàng có kích thước nhỏ ít bị cản trở hơn tại nơi làm việc.
    • Dễ kiểm tra chất lượng lô hàng và khi phát hiện có sai sót. Khi đó chi phí sửa lại lô hàng sẽ thấp hơn lô hàng có kích thước lớn.
  • Lắp đặt với chi phí thấp và nhanh: Theo phương pháp này, người ta sử dụng các chương trình làm giảm thời gian và chi phí lắp đặt để đạt kết quả mong muốn. Những công nhân thường được huấn luyện để lắp đặt cho riêng họ, công cụ và thiết bị cũng như quá trình lắp đặt phải đơn giản và đạt được tiêu chuẩn hóa, thiết bị và đồ gá đa năng giúp giảm thời gian lắp đặt. Hơn nữa, người ta sử dụng nhóm công nghệ để giảm chi phí và thời gian lắp đặt nhờ tận dụng sự giống nhau trong những thao tác có tính lặp lại. Quá trình xử lý một loạt các chi tiết tương tự trên những thiết bị giống nhau làm giảm yêu cầu thay đổi lắp đặt.
  • Bố trí mặt bằng hợp lý: Theo lý thuyết sản xuất cổ điển, mặt bằng của các phân xưởng thường được bố trí theo nhu cầu xử lý gia công. Hệ thống JIT thường sử dụng bố trí mặt bằng dựa trên nhu cầu sản phẩm. Thiết bị được sắp xếp để điều khiển những dòng sản phẩm giống nhau, có nhu cầu lắp ráp hay xử lý giống nhau. Để tránh di chuyển một khối lượng chi tiết lớn trong khu vực, người ta đưa những lô nhỏ chi tiết từ trung tâm này đến trung tâm kế tiếp. Như vậy, thời gian chờ đợi và lượng sản phẩm dở dang được giảm đến mức tối thiểu. Mặt khác, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu giảm đáng kể và không gian cho đầu ra cũng giảm. Các nhà máy có khuynh hướng nhỏ lại nhưng có hiệu quả và máy móc thiết bị được sắp xếp gần nhau hơn.
  • Sửa chữa và bảo trì định kỳ: Do hệ thống JIT có rất ít hàng tồn kho nên khi thiết bị hư hỏng gây ra nhiều rắc rối. Để giảm thiểu hỏng hóc, doanh nghiệp sử dụng các chương trình bảo trì định kỳ, trong đó nhấn mạnh duy trì thiết bị trong điều kiện hoạt động tốt nhất và thay thế những cụm chi tiết có dấu hiệu hỏng trước khi sự cố xảy ra. Những công nhân có trách nhiệm bảo trì thiết bị máy móc của mình. Mặc dù có bảo trì định kỳ, đôi khi thiết bị cũng hư hỏng. Vì vậy, cần thiết phải chuẩn bị và phải có khả năng sửa chữa cũng như đưa thiết bị vào sản xuất một cách nhanh chóng. Muốn vậy, doanh nghiệp cần có những chi tiết dự phòng và duy trì lực lượng sửa chữa nhỏ hoặc huấn luyện công nhân tự mình sửa chữa những hư hỏng đột xuất xảy ra.
  • Đảm bảo mức chất lượng cao: Những hệ thống JIT đòi hỏi các mức chất lượng cao. Những hệ thống này được gài vào một dòng công việc liên tục. Thực tế, do kích thước các lô hàng nhỏ, lượng hàng tồn kho để đề phòng mọi bất trắc thấp. Khi sự cố xảy ra, sản xuất phải ngừng lại cho đến khi sự cố được khắc phục. Vì vậy phải tránh bất cứ sự ngừng việc hoặc nhanh chóng giải quyết trục trặc khi chúng xuất hiện. Hệ thống JIT dùng ba giải pháp mũi nhọn để xử lý vấn đề chất lượng:
    • Một làthiết kế chất lượng cho sản phẩm và quá trình sản xuất. Thực tế cho thấy hệ thống JIT sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hóa sẽ dẫn đến tiêu chuẩn hóa các phương pháp làm việc. Các công nhân rất quen thuộc với công việc của họ và sử dụng các thiết bị tiêu chuẩn hóa. Tất cả những vấn đề trên sẽ đóng góp làm tăng chất lượng sản phẩm ở các khâu của quá trình sản xuất.
    • Hai làyêu cầu các người cung ứng giao nguyên liệu và các bộ phận sản phẩm có chất lượng cao để giảm thiểu trục trặc do hàng hóa chuyển đến. Nếu đạt được yêu cầu này, thời gian và chi phí kiểm tra hàng hóa được loại bỏ.
    • Ba là,làm cho công nhân có trách nhiệm sản xuất những hàng hóa có chất lượng cao. Điều này đòi hỏi phải cung cấp thiết bị và công cụ làm việc phù hợp, huấn luyện phương  thức làm việc thích hợp cho công nhân, huấn luyện trong đo lường chất lượng và phát hiện lỗi, động viên công nhân cải tiến chất lượng sản phẩm. Khi có sự cố xảy ra cần tranh thủ sự cộng tác của công nhân.
  • Sử dụng công nhân đa năng: Trong hệ thống cổ điển, công nhân thường được đào tạo trong phạm vi hẹp mà thôi. Hệ thống JIT dành vai trò nổi bật cho công nhân đa năng được huấn luyện để điều khiển tất cả những công việc từ điều khiển quy trình sản xuất, vận hành máy đến bảo trì, sửa chữa… Người ta mong muốn công nhân điều chỉnh và sửa chữa nhỏ cũng như thực hiện lắp đặt. Trong hệ thống JIT, người ta đẩy mạnh đơn giản hóa lắp đặt, làm thuận lợi cho người vận hành. Người công nhân không những có trách nhiệm trong kiểm tra chất lượng công việc của mình mà còn quan sát kiểm tra chất lượng công việc của những công nhân ở khâu trước họ. Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là mất nhiều thời gian và chi phí đào tạo những công nhân đa năng để đáp ứng yêu cầu của hệ thống.
  • Lựa chọn người bán hàng tin cậy và nâng cao tinh thần hợp tác của các thành viên trong hệ thống: Hầu hết hệ thống JIT mở rộng về phía người cung ứng được yêu cầu giao hàng có chất lượng cao, các lô hàng nhỏ và thời điểm giao hàng tương đối chính xác. Theo truyền thống, doanh nghiệp đóng vai trò kiểm tra chất lượng và số lượng hàng mang đến và khi hàng kém phẩm chất phải trả cho người cung ứng để sản xuất lại. Trong hệ thống JIT, hàng kém phẩm chất sẽ đình trệ sự liên tục của dòng công việc. Kiểm tra chất lượng đưa đến được xem là không hiệu quả vì nó không được tính vào giá trị sản phẩm. Do đó, đảm bảo chất lượng được chuyển sang người cung ứng. Doanh nghiệp sẽ làm việc với người cung ứng để giúp họ đạt được chất lượng mong muốn. Mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là công nhận người cung ứng như một nhà sản xuất hàng chất lượng cao. Do vậy không cần có sự kiểm tra của doanh nghiệp. Ngoài ra, hệ thống JIT đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa các công nhân, quản lý và người cung ứng. Nếu không đạt được điều này sẽ khó hình thành một hệ thống JIT thật sự hiệu quả.
  • Sử dụng hệ thống “kéo”: Thuật ngữ “đẩy” và “kéo” dùng để mô tả hai hệ thống khác nhau nhằm chuyển dịch công việc thông qua quá trình sản xuất. Trong hệ thống đẩy, khi công việc kết thúc tại một khâu, sản phẩm đầu ra được đẩy đến khâu kế tiếp. Ở khâu cuối cùng, sản phẩm được đẩy vào kho thành phẩm. Trong hệ thống kéo, kiểm soát sự chuyển dời của công việc tùy thuộc vào hoạt động đi kèm theo. Mỗi khâu công việc sẽ kéo sản phẩm từ khâu phía trước nếu cần. Đầu ra của hoạt động sau cùng được kéo bởi nhu cầu khách hàng hoặc bởi lịch trình sản xuất chính. Như vậy, trong hệ thống kéo, công việc được luân chuyển để đáp ứng yêu cầu của công đoạn kế tiếp theo của quá trình sản xuất. Trái lại, trong hệ thống đẩy, công việc được đẩy ra khi nó hoàn thành mà không cần quan tâm đến khâu kế tiếp theo đã sẵn sàng chuẩn bị cho công việc hay chưa. Vì vậy, công việc bị chất đống tại khâu chậm tiến độ do thiết bị hỏng hóc hoặc phát hiện có vấn đề về chất lượng. Hệ thống JIT dùng phương pháp kéo để kiểm soát dòng công việc. Mỗi công việc sẽ gắn đầu ra với nhu cầu của khâu kế tiếp. Trong hệ thống JIT, có sự thông tin ngược từ khâu này sang khâu khác. Do đó công việc được di chuyển “đúng lúc” đến khâu kế tiếp, theo đó dòng công việc được kết nối nhau và sự tích lũy thừa tồn kho giữa các công đoạn sẽ được tránh khỏi.
  • Nhanh chóng giải quyết sự cố trong quá trình sản xuất: Giải quyết sự cố là nền tảng cho bất kỳ một hệ thống JIT nào. Mối quan tâm là những trục trặc cản trở hay có khả năng cản trở vào dòng công việc qua hệ thống. Khi những sự cố như vậy xuất hiện cần phải giải quyết một cách nhanh chóng. Điều này buộc phải gia tăng tạm thời lượng tồn kho. Tuy nhiên mục tiêu của hệ thống JIT là loại bỏ càng nhiều sự cố dẫn đến hiệu quả càng cao. Để xử lý nhanh những trục trặc trong quá trình sản xuất, nhiều doanh nghiệp đã dùng hệ thống đèn để báo hiệu. Ở Nhật, một hệ thống như vậy được gọi là ANDON. Mỗi một khâu công việc được trang bị một bộ ba bóng đèn: đèn xanh biểu hiện cho mọi việc đều trôi chảy, đèn vàng biểu hiện có công nhân sa sút cần chấn chỉnh, đèn đỏ báo hiệu có sự cố nghiêm trọng cần nhanh chóng khắc phục. Điểm mấu chốt của hệ thống đèn là cho những người khác trong hệ thống phát hiện được sự cố và cho phép công nhân và quản đốc sửa chữa kịp thời sự cố xảy ra.
  • Liên tục cải tiến: Một trong những vấn đề cơ bản của phương pháp JIT là hướng về sự cải tiến liên tục trong hệ thống như giảm lượng tồn kho, giảm chi phí lắp đặt, giảm thời gian sản xuất, cải tiến chất lượng, tăng năng suất, cắt giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Sự cải tiến liên tục này trở thành mục tiêu phấn đấu của tất cả thành viên trong tổ chức nhằm hoàn thiện hệ thống.

Khía cạnh quan trọng khác của JIT là sử dụng một hệ thống “kéo” (pull) để di chuyển những tồn kho xuyên qua dây chuyền sản xuất. Với một hệ thống như vậy, những yêu cầu của công đoạn tiếp theo sẽ điều chỉnh sản lượng của công đoạn trước đó. Vì vậy, JIT thật cần thiết để xây dựng một quá trình nhằm tạo điều kiện thuận lợi “kéo” các lô từ một công đoạn sang công đoạn kế tiếp.

Kết luận

Để chiến lược Just in time có thể thành công đối với các doanh nghiệp sản xuất thì trong quá trình sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào quy trình sản xuất ổn định, bên cạnh đó cũng cần phụ thuộc vào tay nghề chất lượng cao ngoài ra không có sự cố nào về các máy mức hay nhà cung cấp. Trong khoảng thời gian sản xuất Just in time sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các công ty cắt giảm được các chi phí tồn kho một cách tối đa về các nhà sản xuất lúc này sẽ không phải trả chi phí lưu trữ. Đồng thời, các nhà sản xuất cũng không còn phải để lại một số lượng hàng tồn kho khổng lồ không mong muốn nếu nhận được một order khó.

Không chỉ thế sản xuất trong thời gian có hạn just in time còn là một trong những chiến lược giúp tăng hiệu quả sản xuất trong quá trình kinh doanh hoạt động của các doanh nghiệp và các công ty. Do đó nếu nắm được chiến lược sản xuất này doanh nghiệp và các công ty sản xuất có thể dễ dàng thành công trong việc kinh doanh. Bên cạnh đó phương pháp just in time còn giúp đẩy nhanh thời gian sản xuất phải thời gian giao hàng. Bên cạnh đó cũng sử dụng thiết bị hiệu quả hơn và tỉ lệ các sản phẩm bị lỗi cũng ít hơn